Ảnh hưởng của oxy hòa tan lên sử dụng thức ăn và tăng trưởng của tôm càng xanh

Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là đối tượng nuôi trồng thủy sản nước ngọt quan trọng. Nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của nồng độ oxy hòa tan (độ bão hòa oxy 30, 60 và 100%) đến khả năng tiêu hóa thức ăn, tỷ lệ sống, chu kỳ lột xác và tăng trưởng của tôm càng xanh.

Phương pháp nghiên cứu
1. Thí nghiệm ảnh hưởng của oxy hòa tan đến khả năng tiêu hóa thức ăn của tôm càng xanh
– Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức (bão hòa oxy 30, 60 và 100%) được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong bể composite 1 m3, mực nước trong bể 70 – 80 cm. Tôm được xếp vào rổ nhựa có lưới ngăn thành 2 ô và mỗi ô chứa 1 con tôm. Mỗi bể composite 1 m3 đặt 8 rổ (tương ứng 16 con tôm). Tôm được cân trước khi bố trí thí nghiệm. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước ở các nghiệm thức được kiểm soát bởi hệ thống oxy Guard.
– Phương pháp lấy mẫu: Sau khi cho tôm ăn đến khi tôm bỏ ăn, tiến hành lấy mẫu dạ dày theo nhịp thời gian để xác định sự có mặt của thức ăn trong dạ dày tôm và lượng thức ăn trong dạ dày. Mẫu tôm và dạ dày sẽ được lấy sau khi cho tôm ăn 20 phút, 40 phút, 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ,… cho đến khi hết dạ dày. Mỗi lần đập thu 5 bao tử tôm của mỗi nghiệm thức. Sau khi thu mẫu tôm và bao tử tiến hành xác định khối lượng tươi và khối lượng khô (mẫu được sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 105oC trong 24 giờ để xác định khối lượng khô).
2. Thí nghiệm ảnh hưởng của oxy hòa tan đến sinh trưởng của tôm
Bố cục thử nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức độ bão hòa oxy 30, 60 và 100%, tương tự như thí nghiệm theo dõi thời gian tiêu hóa thức ăn. Tôm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn trong bể composite 1 m3, mực nước trong bể 70 – 80 cm. Tôm được nuôi trong rổ nhựa có lưới ngăn thành 2 ô và mỗi ô chứa 1 con tôm. Mỗi bể composite 1 m3 đặt 8 rọ nhựa (tương ứng với 16 con tôm), lặp lại 4 lần cho mỗi nghiệm thức và thí nghiệm được tiến hành trong 90 ngày. Hàm lượng oxy hòa tan trong các nghiệm thức được kiểm soát bởi hệ thống oxy Guard. Mỗi bể được thả thêm 3 con cá lau kính để góp phần làm sạch đáy bể và giảm một phần oxy hòa tan trong nước ở 2 nghiệm thức bão hòa oxy 30 và 60%.
– Chăm lo: Trọng lượng tôm được cân trước khi đưa vào mỗi nghiệm thức. Tôm được cho ăn theo nhu cầu ngày 2 lần vào 8 giờ sáng và 16 giờ, thức ăn thừa được thu gom sau 1 – 2 giờ. Hàng ngày trước khi cho tôm ăn phải vệ sinh bể để loại bỏ phân và thức ăn thừa. Thay nước các bể 3-5 ngày một lần và mỗi lần thay không quá 30% thể tích bể.
– Tiêu chí theo dõi: Theo dõi hàng ngày và ghi lại nhiệt độ, hàm lượng oxy hòa tan trên màn hình của máy Oxy Guard ở vị trí 8 giờ và 16 giờ. Các thông số môi trường như pH, NH3, NO2 và NO3 được đo mỗi tuần một lần. Ghi lại số lượng tôm chết và tôm lột xác hàng ngày. Hàng tháng và sau khi kết thúc thí nghiệm, tôm được thu gom và cân riêng.
– Tiêu chí tính toán
+ Hàm lượng oxy hòa tan (mg / L) = (% bão hòa x A) / 100 (A: giá trị độ hòa tan của oxy ở nhiệt độ và độ mặn tương ứng (Colt, 1984)
+ Chu kỳ lột xác: chu kỳ lột xác của tôm là thời gian từ lần lột xác này đến lần lột xác tiếp theo.
+ Tỷ lệ sống (%) = (số cá thể cuối thí nghiệm / số cá thể lúc đầu) x100
+ Sinh trưởng: Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối (g / ngày): DWG = (Wt – W0) / t; Tốc độ tăng trưởng tương đối (% / ngày): SGR =[(LnWt–LnW0)/t]x100. Trong đó: W0: khối lượng tôm lúc đầu (g); Wt: Khối lượng tôm khi kết thúc thí nghiệm (g), t: thời gian nuôi (ngày)

Xem thêm:  Dàn ý - câu nói của m. go-rơ-ki “hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?

Kết quả nghiên cứu
1. Ảnh hưởng của oxy hòa tan đến thời gian tiêu hóa thức ăn của tôm càng xanh
Các thông số môi trường trong quá trình thử nghiệm
Các yếu tố môi trường như nhiệt độ trung bình của thí nghiệm là 27,3 ± 0,2oC và pH trung bình là 8,1 ± 0,2. Hàm lượng oxy hòa tan của các nghiệm thức bão hòa oxy 30, 60 và 100% lần lượt là 30,1 ± 0,32; 61,6 ± 0,4; và 97,3 ± 0,21%.
– Thời gian sử dụng và tiêu hóa thức ăn của tôm
Lượng thức ăn trong dạ dày tôm thay đổi theo thời gian (Hình 1). Ở nghiệm thức bão hòa 30%, thời gian tiêu hóa của tôm kéo dài đến 7 giờ, trong khi ở nghiệm thức bão hòa oxy 60 và 100%, thời gian tiêu hóa của tôm tương ứng là 6 giờ và 5 giờ. Ở nghiệm thức bão hòa oxy 30%, lượng thức ăn trong dạ dày tôm đạt tối đa sau 1 giờ. Khối lượng thức ăn trong dạ dày tôm trung bình là 0,156 ± 0,007 g và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05) so với khối lượng thức ăn trong dạ dày tôm lúc 20 phút (0,085 ± 0,010 g). và 40 phút (0,108 ± 0,013 g). Sau 1 giờ, thức ăn trong dạ dày tôm giảm dần và đến khoảng 7 giờ, dạ dày tôm hết thức ăn. Hình 1: Lượng thức ăn trong dạ dày tôm ở các nghiệm thức theo thời điểm lấy mẫu. Ở nghiệm thức bão hòa oxy 60%, tôm bắt mồi rất nhanh và sau khoảng 20 phút kể từ khi cho ăn, trọng lượng thức ăn Lượng thức ăn trong dạ dày tôm cao nhất là 0,194 ± 0,013 g và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ( p <0,05) so với lượng thức ăn trong dạ dày tôm tại thời điểm lấy mẫu tiếp theo. Khối lượng thức ăn trong dạ dày tôm giảm dần theo thời gian và khoảng 6 giờ sau khi cho ăn, dạ dày tôm hết thức ăn. Khác với hai nghiệm thức bão hòa ôxy 30 và 60%, ở nghiệm thức bão hòa ôxy 100%, lượng thức ăn trong dạ dày tôm tăng và giảm dần theo thời gian. Khối lượng thức ăn trong dạ dày tôm đạt giá trị cao nhất là 0,166 ± 0,007 g sau 2 giờ cho ăn và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (tr<0.05) compared with the amount of food in the stomach of shrimp in time 20 minutes. However, the amount of food in the shrimp stomach at 2 hours after feeding was not significantly different (p>0,05) so với lượng thức ăn trong dạ dày tôm lúc 40 phút và 1 giờ sau khi cho ăn. giờ. Tôm ở nghiệm thức bão hòa oxy 100% bắt mồi chậm, nhưng thời gian tiêu hóa khá nhanh và sau khoảng 5 giờ kể từ khi cho ăn, dạ dày của tôm đã hoàn toàn trống rỗng.
2. Ảnh hưởng của oxy hòa tan đến sinh trưởng của tôm càng xanh
– Các chỉ tiêu môi trường trong quá trình thí nghiệm
Trong quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường như nhiệt độ trung bình trong ngày khoảng 27,6oC, cao nhất là 28,8oC và thấp nhất là 25,8oC. Hàm lượng oxy hòa tan trung bình tính theo phần trăm bão hòa ở các nghiệm thức 30, 60 và 100% lần lượt là 31,8 ± 0,44; 61,4 ± 0,41; và 93,5 ± 1,28%; PH trung bình của các nghiệm thức là 8,1 ± 0,21; NH3 trung bình là 0,11 ± 0,041 mg / L; NO2- trung bình là 0,17 ± 0,072 mg / L; và NO3 là 0,28 ± 0,131 mg / L. Các thông số môi trường trong quá trình thí nghiệm tương đối ổn định và nằm trong giới hạn thích hợp cho sự phát triển bình thường của tôm. Hình 2: Tỷ lệ sống của tôm trong các tháng thí nghiệm
– Tỷ lệ sống của tôm
Tỷ lệ sống của tôm có xu hướng giảm dần qua các tháng thí nghiệm. Tỷ lệ sống trung bình của tôm ở tháng thứ 1 và tháng thứ 2 ở tất cả các nghiệm thức là hơn 90%. Tuy nhiên, đến tháng thứ 3, tỷ lệ sống của tôm giảm nhanh, tôm ở nghiệm thức 30% có tỷ lệ sống 79,7%, nghiệm thức 60% và 100% đều có tỷ lệ sống 90,6%. Hình 2). Bảng 1: Chu kỳ lột xác của tôm ở tất cả các nghiệm thức

Xem thêm:  Điểm chuẩn trường Trần Hưng Đạo

– Chu kỳ lột xác của tôm
Ở nghiệm thức bão hòa oxy 30%, tôm lột xác đến lần thứ tư so với tôm ở hai nghiệm thức 60 và 100% lột xác đến lần thứ năm. Ở lần lột xác đầu tiên, chu kỳ lột xác của tôm ở các nghiệm thức 30, 60 và 100% bão hòa oxy lần lượt là 13,7 ± 0,57 ngày, 12,4 ± 0,72 ngày và 11,9 ngày. ± 0,51 ngày và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05) giữa các nghiệm thức. Tương tự, ở lần lột xác thứ hai và thứ ba, chu kỳ lột xác của tôm cũng không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05) giữa các nghiệm thức. Tuy nhiên, ở lần lột xác thứ tư, chu kỳ thay lông dài nhất ở độ bão hòa oxy 30% là 31,4 ± 0,41 ngày và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (tr<0.05) compared with the other two. remaining experiment. Shrimp in the 60 and 100% oxygen saturation treatments had an average molting cycle of 26.7±1.43 days and 23.6±0.7 days, respectively, and the difference was not statistically significant (p >0,05). Tỷ lệ tôm lột xác ở lần thứ 5 khá thấp, chỉ trong 2 nghiệm thức có độ bão hòa oxy 60 và 100% là tôm lột xác đến lần thứ 5. Chu kỳ lột xác của tôm ở lần lột xác thứ 5 của nghiệm thức 60 và 100% bão hòa oxy lần lượt là 27,7 ± 0,6 và 28,7 ± 1,34 ngày, và sự khác biệt không có ý nghĩa (p). > 0,05). Bảng 2: Khối lượng tôm ở các nghiệm thức có các mức oxy bão hòa khác nhau sau 90 ngày nuôi

Xem thêm:  Giải bài 6, 7, 8, 9 10 trang 70, 71 sgk toán 6 tập 1

Ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan đến sinh trưởng của tôm
Khối lượng tôm ban đầu tương đối đồng đều và khối lượng tôm trung bình giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05). Sau 30 ngày nuôi, trọng lượng tôm bắt đầu khác nhau giữa các nghiệm thức. Trọng lượng tôm trung bình ở nghiệm thức 30% là 9,78 g, nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức 60% (12,9 g) và 100% (14,2 g) (p <0,05) (p<0.05). ). However, the mean shrimp weight was not significantly different between the 60 and 100% treatments (p>0,05). Sau 60 ngày, trọng lượng tôm trung bình ở tất cả các nghiệm thức đều có ý nghĩa thống kê (p <0,05), trọng lượng tôm trung bình ở các nghiệm thức 30, 60 và 100% lần lượt là 12,1. ; 15,1 và 17,3 g. Sau 90 ngày nuôi, trọng lượng tôm trung bình của nghiệm thức 30% là 13,7 g và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với hai nghiệm thức còn lại (tr<0.05). Meanwhile, the highest shrimp weight was in the treatment of 100% (19.1 g) but the difference was not statistically significant compared with the treatment of 60% (17.3 g) (p>0,05) (Bảng 2). Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tương đối của tôm ở các nghiệm thức Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình (DWG) của tôm khác nhau giữa các nghiệm thức. Ở nghiệm thức 30%, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của tôm là 0,05 g / ngày và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với hai nghiệm thức 60% và 100% độ bão hòa oxy (p <0,05) (p<0.05) Table 3). However, the absolute growth rate of shrimp in the 60% treatment was 0.09 g/day and in the 100% treatment was 0.11 g/day, the difference was not statistically significant (p>0,05). Tốc độ tăng trưởng tương đối của tôm ở nghiệm thức 30% có ý nghĩa thống kê (p<0.05) compared with the other two treatments (Table 3). Meanwhile, the relative growth rate of shrimp in the two treatments of 60% and 100% oxygen saturation was not statistically significant (p>0,05).

Nguồn: Theo © Triệu Tuấn, www.aquanetviet.com
Vui lòng ghi rõ nguồn thuysan247.com khi sao chép bài viết này.
Liên hệ để biết thông tin và gửi bài cộng tác qua email [email protected]Nhấn nút “quan tâm” nếu bạn muốn nhận thông tin cập nhật từ chúng tôi trên Zalo.

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Ảnh hưởng của oxy hòa tan lên sử dụng thức ăn và tăng trưởng của tôm càng xanh❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Ảnh hưởng của oxy hòa tan lên sử dụng thức ăn và tăng trưởng của tôm càng xanh” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Ảnh hưởng của oxy hòa tan lên sử dụng thức ăn và tăng trưởng của tôm càng xanh [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Ảnh hưởng của oxy hòa tan lên sử dụng thức ăn và tăng trưởng của tôm càng xanh” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 14:35:35. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button