Canxi và phospho trong thức ăn thủy sản

Ca và P cần thiết cho quá trình tạo xương. Trong xương cá, Ca chiếm tỷ lệ cao. Trong vảy cá rô phi, hàm lượng Ca cũng chiếm từ 19-21%. Hàm lượng Ca ở một số loài cá giảm trong quá trình sinh sản và thức ăn thiếu Ca chứng tỏ Ca được hấp thụ từ vảy cho các hoạt động sinh lý. Tỷ lệ Ca: P trong vảy và xương cá là 1,5 – 2,1 và tỷ lệ Ca: P trong toàn thân là 0,7 – 1,6. Ngoài vai trò cấu tạo cơ bản của xương, Ca còn tham gia vào quá trình đông máu, co cơ, dẫn truyền thần kinh và duy trì áp suất thẩm thấu. Tương tự như Ca, P thường tồn tại dưới dạng kết hợp với các hợp chất khác trong mô xương cá. Hàm lượng P trong xương cá chiếm khoảng 15% và 0,2 – 0,8% trong cơ thịt cá. P có vai trò trong quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng trong cơ thể. P là thành phần cấu tạo của các hợp chất cao năng lượng Adenosine triphosphate (ATP), Phospholipid, DNA, RNA và một số coenzyme. Vì vậy, P tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng, điều khiển sinh sản, sinh trưởng … Photpho tham gia duy trì ổn định pH trong cơ thể động vật thủy sản. Đối với động vật trên cạn, Ca được lấy từ thức ăn, nhưng ở động vật có vú ở biển, đặc biệt là động vật biển, nó có khả năng hấp thụ Ca từ nước uống hoặc qua mang, da. Cá biển hấp thụ một lượng rất lớn các chất khoáng từ nước biển như: Ca, Na, Cl, Mg, nhưng rất ít P. Lượng Ca hấp thụ trong cá biển khoảng 40 – 52% so với lượng cung cấp từ thức ăn. Ngược lại, cá nước ngọt khó có thể lấy Ca từ môi trường vì chúng ít uống nước. Khi nồng độ P trong nước biển thấp (dưới 0,1 mg / l) thì lượng P mà cá thu được từ nước biển chỉ bằng khoảng 1% lượng P lấy từ thức ăn. Do đó, cá có thể tự điều chỉnh sự hấp thu Ca thông qua việc tăng hấp thu Ca từ môi trường nước, chỉ khi nước quá mềm và thức ăn không cung cấp đủ Ca thì vấn đề thiếu Ca mới xảy ra. Vì vậy, nhu cầu Ca của cá ít được chú ý, tuy nhiên, cá nuôi trong môi trường nước quá mềm thì lượng Ca trong thức ăn cũng cần lưu ý vì hàm lượng Ca trong thức ăn thấp sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng. Ngược lại với Ca, P phần lớn được lấy từ thức ăn, tỷ lệ P được hấp thụ từ môi trường nước rất thấp, chỉ bằng 1/40 so với Ca. Lượng P được hấp thụ từ môi trường nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường, hàm lượng Ca trong nước và các loài thủy sản. Dấu hiệu thiếu P chủ yếu là giảm sinh trưởng, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn và chất khoáng ở xương, vảy, vỏ. Ngoài ra, ở cá chép còn có biểu hiện tăng hàm lượng mỡ, giảm lượng nước trong cơ thể và P trong máu.

Xem thêm:  Ký hiệu biển số xe máy, ô tô Hà Nội 2022

Các loại Canxi và Phốt pho mà động vật thủy sản có thể sử dụng

Khả năng sử dụng và hấp thụ Ca phụ thuộc vào dạng và hàm lượng Ca, hàm lượng P, thành phần thức ăn và cấu trúc hệ tiêu hóa của động vật hoang dã. Ở cá chép, khi hàm lượng Ca trong thức ăn là 0,68%, cá có thể hấp thụ 58% canxi lactat, 37% canxi photphat tribasic và 27% canxi cacbonat. Khả năng hấp thụ Ca của động vật thủy sản tăng lên khi sử dụng Ca ở dạng hòa tan. Sự hấp thụ Ca sẽ giảm 20-34% khi hàm lượng P trong thức ăn cao. Nguồn Ca chủ yếu trong thức ăn chăn nuôi là các nguyên liệu có nguồn gốc từ động vật như bột cá. Ở cá, hàm lượng Ca cao nhất ở xương (> 30%) và vảy (> 80%). Ca trong vảy cá là sự tích tụ Ca tạm thời và không ổn định. Trong cơ thịt cá, hàm lượng Ca dao động trong khoảng 0,02 – 0,5% khối lượng. Ca còn ảnh hưởng đến các thành phần dinh dưỡng khác như Vitamin D, Mg, Zn. Giống như Ca, hiệu quả sử dụng và hấp thụ P phụ thuộc vào dạng P sử dụng, hàm lượng Ca và loài cá. Lượng Ca trong thức ăn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hấp thụ P trong nước và thức ăn. Khả năng hấp thụ P phụ thuộc vào dạng P. Dạng monophosphat Na và Monophosphat K là những dạng muối khoáng hiệu quả nhất được sử dụng cho cá chép, cá rô phi, cá tra và cá hồi. Sự sẵn có của hỗn hợp canxi photphat rất khác nhau. Các dạng canxi photphat đơn bazơ được sử dụng hiệu quả nhất trong khi các dạng bazơ và ba bazơ kém hiệu quả hơn. Tuy nhiên, khả năng sử dụng các dạng P cũng khác nhau tùy theo loài. P trong bột cá có tác dụng đối với cá khoảng 40%. P trong casein và men bia được cá chép và cá trê sử dụng rất tốt. Đối với P của thực vật, ĐVHD hầu như không sử dụng hoặc hiệu quả sử dụng rất kém. P từ khô dầu đậu tương vì tồn tại chủ yếu dưới dạng axit phytic nên cá chỉ sử dụng được 29-54%. Tỷ lệ Ca: P đã được đề xuất cho một số loài như 0,56: 1,1 cho tôm hùm, 1: 1 cho tôm thẻ chân trắng Nhật Bản, 1: 1 hoặc 1: 1,5 cho tôm sú. Mức Ca tối đa trong thức ăn cho tôm là 2,3%, mức P từ 1 – 2%. Đối với cá, mức P được khuyến nghị là 0,29 – 0,8% tùy thuộc vào loài và dạng P được sử dụng. Bảng: Giá trị sử dụng của các nguồn phốt pho cho tôm cá

Xem thêm:  Giá trứng lao dốc, người nuôi bán tháo đàn chim cút

Hình thức sử dụng

Cá mèo

Cá chép

Tôm thẻ chân trắng

Canxi photphat đơn bazơ

94%

94%

46,5

Bazơ canxi photphat

65%

46%

19.4

Tri cơ bản canxi photphat

13%

9,9

Mono kali photphat cơ bản

68

Mono natri photphat bazơ

68,2

Nguồn: Theo http://vibo.com.vn
Vui lòng ghi rõ nguồn thuysan247.com khi sao chép bài viết này.
Liên hệ để biết thông tin và gửi bài cộng tác qua email [email protected]Nhấn nút “quan tâm” nếu bạn muốn nhận thông tin cập nhật từ chúng tôi trên Zalo.

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Canxi và phospho trong thức ăn thủy sản❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Canxi và phospho trong thức ăn thủy sản” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Canxi và phospho trong thức ăn thủy sản [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Canxi và phospho trong thức ăn thủy sản” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 07:32:47. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button