Copefloc – nuôi tôm bằng thức ăn tự nhiên

Đây là mô hình nuôi tôm mới ở Thái Lan, được phát triển trên nền tảng công nghệ Biofloc; Ưu điểm nhất là sử dụng giống floc và thức ăn tự nhiên làm thức ăn chính cho tôm nuôi, không sử dụng thức ăn công nghiệp.
Ưu điểm vượt trội
Công nghệ Copefloc, giống như Biofloc, có nhiều ưu điểm. Thứ nhất, amoniac tự do trong nước được chuyển hóa thành protein trong sinh khối vi sinh dị dưỡng, kết tụ thành các hạt Biofloc lơ lửng trong nước. Thứ hai, nâng cao mức độ an toàn sinh học, giảm nguy cơ lây truyền dịch bệnh do không cần thay nước. Thứ ba, không gây ô nhiễm môi trường; giảm chi phí thức ăn, thuốc, hóa chất. Tôm lớn nhanh. Khác với công nghệ Biofloc, công nghệ Copefloc được thiết kế để vận hành đơn giản và hoàn toàn không sử dụng thức ăn công nghiệp. Hệ thống nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ Copefloc có nhiều ưu điểm hơn hẳn các hệ thống ứng dụng công nghệ phổ biến hiện nay như: Kỹ thuật thay nước định kỳ, tuần hoàn nước bằng hệ thống lọc sinh học hoặc hệ thống lọc sinh học. bộ lọc cơ học. Giải pháp thay nước thường kéo theo việc thải các chất ô nhiễm ra môi trường, tiêu thụ nước sạch, tăng chi phí năng lượng, chẳng hạn như vận hành máy bơm, và tăng nguy cơ lây truyền dịch bệnh từ nguồn nước cung cấp. Vận hành hệ thống lọc sinh học và lọc cơ học đòi hỏi hệ thống thiết bị phức tạp, chi phí vận hành và năng lực kỹ thuật cao. Tiên tiến hơn hai phương pháp trên hệ thống Copefloc vừa có khả năng cải tạo môi trường vừa tạo sinh khối thức ăn tự nhiên, góp phần tái sử dụng chất dinh dưỡng từ chất thải của động vật thủy sản; Thao tác cũng khá đơn giản. Nuôi theo công nghệ Copefloc hoàn toàn không sử dụng hóa chất, kháng sinh nên nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Nguồn thức ăn cho tôm nuôi
Thức ăn sử dụng trong hệ thống này chủ yếu là hạt biofloc và thức ăn tự nhiên (động vật chân đốt, nhuyễn thể, giun nhiều tơ, giáp xác nhỏ …). Những loại thức ăn này rất giàu chất dinh dưỡng, rất tốt cho sự phát triển của tôm. Copepods, động vật nguyên sinh, một số loài giáp xác nhỏ, là thức ăn rất quan trọng đối với tôm cá, đặc biệt là trong giai đoạn cá con. Các hạt biofloc thực chất là sự kết dính của tảo, động vật nguyên sinh, phân tôm và chất thải hữu cơ, được chuyển hóa và có hàm lượng đạm cao hơn hàm lượng đạm trong thức ăn công nghiệp.

Sơ đồ chuỗi thức ăn trong quy trình nuôi tôm theo ứng phó
1: Chất thải từ tôm, cá nuôi cung cấp chất dinh dưỡng cho vi khuẩn và thực vật phù du
2: Vi khuẩn, thực vật phù du trở thành thức ăn cho động vật phù du hoặc sinh vật đáy
3: Động vật phù du làm thức ăn cho động vật giáp xác nhỏ, động vật phù du khác
4: Động vật phù du, giáp xác nhỏ, động vật đáy làm thức ăn cho tôm, cá nuôi Nguồn thức ăn tự nhiên nuôi sau khi lọc nước trong ao lắng một thời gian, cấp vào bể nuôi có độ sâu 1,2 – 1,5m; Làm giàu oxy bằng cách sục khí mạnh, trong 24-48 giờ. Dùng cám gạo ủ men vi sinh cho vào túi vải thưa, hình ống, thả xuống ao, lượng 300 kg / ha. Tiếp tục quạt nước và sục khí trong 7-10 ngày. Môi trường thuận lợi, thức ăn tự nhiên trong ao sẽ phát triển. Dung dịch biofloc mồi được pha chế bằng cách lên men hỗn hợp được pha theo tỷ lệ: 1 lít nước sạch, 10g bột ngũ cốc (bột cá, bã đậu…), 10 ml dung dịch nuôi cấy chủng Baccilus nguyên chất. mật độ subtilis 106 vi khuẩn / ml. Quá trình lên men được thực hiện trong điều kiện sục khí mạnh trong 48 giờ, pH được duy trì ở mức 6,0 – 7,2 bằng cách bổ sung dung dịch đệm pH, ở nhiệt độ 25 – 28C. Khi vi sinh vật phát triển mạnh sẽ hình thành bọt khí lớn nổi trên bề mặt mồi biofloc có thể bổ sung vào ao nuôi.
Vận hành
Hệ thống nuôi theo công nghệ Copefloc không tạo ra chất thải nên không cần hệ thống máy bơm thu gom chất thải; Thay vào đó, cần bố trí hệ thống sục khí để cung cấp nhiều ôxy cho tôm nuôi, vi sinh, thức ăn tự nhiên trong ao. Nuôi theo công nghệ Copefloc sử dụng hệ thống sục khí đáy được thiết kế bằng cách khoan các lỗ nhỏ trên ống PVC, khoảng cách giữa các lỗ từ 25 – 30 cm, tạo thành mạng lưới có diện tích bao phủ khoảng 40% tổng diện tích. diện tích ao, thay vì sử dụng hệ thống quạt nước không hoặc rất ít. Mật độ thả dưới 50 con / m2. Ở mật độ nuôi này, tôm phát triển tốt, sử dụng hoàn toàn thức ăn tự nhiên. Trong quá trình nuôi không cần cho ăn; thay vào đó, người nuôi phải quản lý và duy trì dân số và mật độ thức ăn tự nhiên, lượng biofloc trong ao. Thu thập mẫu và tính toán mật độ cá đối hàng ngày bằng cách sử dụng xô và chậu để thu thập 50-100 lít nước tại các vị trí khác nhau trong ao. Sau đó lọc qua lưới phiêu sinh, kích thước mắt lưới 50 – 70 µm, cho vào lọ 60 ml, cố định bằng formol 2 – 4%. Dùng pipet lấy 1 ml và đếm dưới kính hiển vi ở độ phóng đại 10X, 40X, bằng cách di chuyển buồng đếm theo tọa độ. Từ đó, tính toán mật độ sâu bọ và điều chỉnh lượng men vi sinh bón cho ao nuôi làm thức ăn cho sâu bọ và sinh vật trong ao. Để kích thích sự hình thành biofloc và duy trì sự ổn định, nên bổ sung biofloc mồi và các nguồn carbon vào hệ thống nuôi. Có nhiều nguồn cacbon: bột ngũ cốc, rỉ đường, bột bã mía, rơm rạ, cỏ. Duy trì hàm lượng biofloc <1 ml / l trong suốt chu kỳ nuôi. Về nguyên lý hoạt động, Copefloc là công nghệ nuôi được vận hành khá đơn giản, hoàn toàn khép kín, không tạo ra chất thải; Đây được coi là mô hình nuôi an toàn và ít rủi ro. Điểm mấu chốt của quá trình này là kỹ thuật tạo và duy trì nguồn thức ăn cho tôm trong suốt mùa sinh trưởng. Theo Nguyễn Nhung, Tạp chí Thủy sản Việt Nam, 08/05/2015

Xem thêm:  Giá gỗ trắc (đỏ đen xanh, bách diệp, nam phi) bao nhiêu tiền 1kg 2022? Mua ở đâu?

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Copefloc – nuôi tôm bằng thức ăn tự nhiên❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Copefloc – nuôi tôm bằng thức ăn tự nhiên” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Copefloc – nuôi tôm bằng thức ăn tự nhiên [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Copefloc – nuôi tôm bằng thức ăn tự nhiên” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 03:37:04. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button