Kỹ thuật nuôi cá Sặc Rằn

Hiện nay, cá Sác Zan được nuôi rất phổ biến và có giá bán ổn định, tuy nhiên hiệu quả nuôi cá Sác Bàn vẫn chưa cao do người dân chưa nắm vững đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi của loài cá này. Mặt khác, do điều kiện tự nhiên khác nhau trong các mô hình nuôi khác nhau nên người nuôi thường gặp nhiều khó khăn trong việc cải tạo ao nuôi, mật độ thả, lượng thức ăn sử dụng… nên năng suất có phần hạn chế. Dưới đây là kỹ thuật nuôi cá Sắc Bàn đạt hiệu quả kinh tế.
I. CẤU TẠO CHẬU
– Cá Sặc Rằn không kén ao, nuôi trong ao, mương vườn, ruộng lúa… cá phát triển tốt. Cả diện tích lớn và nhỏ đều có thể nuôi được. Ao nên được thiết kế hình chữ nhật để dễ dàng xử lý và thu hoạch. – Cá lóc có thể sống ở nước ngọt và nước lợ với nồng độ muối 8% o. Trong ao nuôi không nên để nước quá đục, không nên dùng nước có pH <6, có thể tận dụng nước trong. ruộng lúa để nuôi thành ao. - Khi nuôi với mật độ dày cần thiết kế đường ống thoát nước và cấp nước, đường kính tùy theo diện tích ao nuôi, thông thường đường kính 30cm -40cm là thích hợp. - Bờ ao phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm từ 0,5m trở lên. Độ sâu của nước ao trên 1 m. II. CHUẨN BỊ HỒ BƠI
– Xả nước, tu sửa bờ ao, làm sạch cỏ xung quanh, chống dột, chống thất thoát nước, kiểm tra đường ống cấp thoát nước, diệt hết cá tạp, mầm bệnh trong ao. – Sên nạo vét đáy ao, chỉ chừa lại 10-20cm bùn đáy. – Bón vôi quanh bờ ao và đáy ao, liều lượng 10 – 15 kg / 100m2, sau đó phơi ao để nứt chân chim. – Bón phân: Nên sử dụng phân hữu cơ hoai mục để bón lót ao, lượng 15 -20kg / 100m2 để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Đối với ao nuôi mới cần tăng lượng phân xanh (lá lốt, cây họ đậu) từ 25 – 30 kg / 100m2. – Sử dụng phân vô cơ NPK (20: 20: 0) với lượng 0,8 – 1 kg / 100m2 thay thế trong trường hợp không hoặc ít phân hữu cơ. – Sau khi bón phân, phơi ao 2 – 3 ngày và cho nước vào ao sâu 1,2 – 1,5m (nước cấp phải qua túi lọc vải kate để ngăn cá tạp và động vật ăn thịt vào ao). Khoảng 4-5 ngày khi nước có màu xanh nõn chuối non bắt đầu thả cá giống. – Trường hợp sử dụng mương vườn để nuôi phải diệt trừ sâu bệnh trước khi thả cá.
III. Chăn nuôi
– Thời vụ thả nuôi: Cá vược được nuôi quanh năm, nhưng tốt nhất nên thả vào đầu mùa mưa (khoảng tháng 5 AL hàng năm). – Vận chuyển cá giống: Trong quá trình vận chuyển cần bao gói với mật độ thưa để tránh trường hợp cá bị xây xát, mất nhớt. Nên vận chuyển cá lúc trời râm mát, thời gian vận chuyển không quá 10 giờ. – Chọn cá giống có kích thước đồng đều, khỏe mạnh, không bị xây xát, màu sắc tươi sáng đặc trưng của loài, không có biểu hiện bệnh tật, không dị hình, không dị tật. – Không chọn cá giống quá nhỏ, cá có kích thước từ 4 – 5 cm trở lên là thích hợp, thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý. – Cá được thả vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. – Để hạn chế sốc môi trường, nhiệt độ nên thả bịch cá giống xuống ao 10 – 20 phút rồi thả từ từ cá ra ngoài, đồng thời phải quan sát biểu hiện ban đầu của cá để có hướng xử lý. được khắc phục kịp thời. – Mật độ thả từ 8 – 10 con / m2. Nếu nuôi thả trên ruộng, không có thức ăn bổ sung thì thả với mật độ 3 – 5 con / m2.
IV. QUẢN LÝ THỰC PHẨM
– Nguồn thức ăn bổ sung: Tùy theo điều kiện thực tế của từng hộ, nguồn thức ăn bổ sung có thể là: – Cho ăn 100% thức ăn viên đối với cá có vảy, có hàm lượng đạm 20 – 30% (thức ăn công nghiệp) trong khẩu phần. – Thức ăn tự chế gồm: Cám gạo 65% + Cá tạp 25% + Chất kết dính 10%. Cách cho ăn: Hàng ngày cho cá ăn 1 – 2 lần vào lúc 7 – 8 giờ và 16 – 17 giờ. Nếu thức ăn tươi, nên cho thức ăn qua sàng để dễ kiểm soát thức ăn. Lượng cho ăn hàng ngày thay đổi tùy theo tháng nuôi: Hai tháng đầu 10% tổng trọng lượng cá, tháng thứ 3 7%, tháng 5-6 5% và các tháng tiếp theo 3. %. Để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp cần lưu ý một số yếu tố như: – Theo dõi sức ăn của cá, nếu sau 30 phút cá ăn hết là đạt yêu cầu. – Khi nước ao có màu sẫm (tảo nhiều, đáy ao có màu đen) nên giảm lượng thức ăn cho ăn.
V. QUẢN LÝ NÔNG NGHIỆP
Sau khi thả cá giống, việc quản lý môi trường ao nuôi là hết sức cần thiết và được thực hiện thường xuyên trong quá trình nuôi. – Thay nước: khi chất lượng nước suy giảm chỉ nên thay khoảng 20 – 30% lượng nước để tránh cá bị sốc. Việc thay nước sẽ làm tăng oxy, giảm độc tố trong hệ thống nuôi, kích thích cá hoạt động và bắt mồi, đặc biệt là kích thích cá tăng trưởng.
* Ghi chú: Khi thay nước cần xác định nguồn nước cấp vào có đạt yêu cầu chất lượng hay không để tránh làm xấu hoặc ô nhiễm chất lượng nước trong ao nuôi. Có thể thay nước theo chu kỳ 15 – 20 ngày / 1 lần (đối với những tháng nuôi cuối). – Phải thường xuyên theo dõi màu nước để điều chỉnh lượng thức ăn, phân bón, quan sát ao nuôi cá, tránh hết, tràn, địch hại (ếch, nhái, rắn, …) để diệt trừ; đồng thời quan sát hoạt động của cá (ăn mạnh hay yếu, có biểu hiện bệnh hay không, …) để kịp thời xử lý. – Bón vôi trên bờ ao vào những ngày mưa để khử phèn. – Định kỳ 15 – 20 ngày / lần sử dụng men vi sinh trong suốt quá trình nuôi. – Phát hiện cá bị bệnh phải báo ngay cho cán bộ kỹ thuật để xử lý kịp thời.
TẠI VÌ. MÙA GẶT
Sau 8 – 10 tháng cá đạt trọng lượng 100 – 150g / con thì có thể thu hoạch. – Trường hợp kích cỡ cá trong ao không đồng đều thì dùng lưới vây tỉa hoặc thu gom và thả lại cá nhỏ qua ao mới.
VII. PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH CỦA CÁ
1. Phòng ngừa
Thực hiện đúng quy trình kỹ thuật nuôi như: – Xây dựng, cải tạo ao nuôi đúng quy trình kỹ thuật; – Chọn cá giống khỏe mạnh, mật độ nuôi thích hợp; – Nguồn nước ao nuôi phải sạch, không bị ô nhiễm; – Trong quá trình đánh bắt, xuống ao tránh xây xát; Cho cá ăn phải đầy đủ chất dinh dưỡng để cá có khả năng kháng bệnh; Trước khi thả cá nên tắm cho cá giống bằng thuốc tím hoặc nước muối 3-5 phút trong vòng 5-10 phút để diệt hết mầm bệnh.
2. Một số bệnh thường gặp trên cá lóc
2.1. Bệnh hại quả mướp
– Dấu hiệu bệnh lý: Ở giai đoạn đầu bệnh sẽ xuất hiện những đốm trắng bằng đầu kim hoặc nhỏ hơn trên thân cá. Sau đó, trên da cá xuất hiện các đốm trắng và các vây bị tua. Cá bơi chậm, tỷ lệ chết cao. – Phòng trị: Dùng 20-25ml Formol / m3 nước ao, 3 lần, cách nhau 3 ngày.
2.2. Bệnh bánh xe
Dấu hiệu bệnh lý: Khi cá mắc bệnh, thân cá có màu trắng sữa, da sẫm màu, mang xanh tái, cá ăn ít và nổi thành từng đàn trên mặt nước. – Phòng trừ: Đây là bệnh do ngoại ký sinh, có thể điều trị như sau: + Dùng sunfat đồng (phèn xanh) phun khắp ao với liều lượng 0,3 – 0,5 gr / m3 nước ao, xử lý 2 – 3 lần. , Mỗi lần cách nhau 1 ngày. + Sử dụng Formol với liều lượng 20-25m / m3 nước. Điều trị trong 3 ngày liên tục. Cá bệnh nên xử lý lúc trời râm mát và trong thời gian điều trị nên giảm một nửa lượng thức ăn.
2.3. Thuốc diệt nấm Mycosis (nấm bông)
Khi bệnh xuất hiện, thân cá có những vùng màu trắng xám, trên đó có những sợi tua rua nhỏ, mềm. Sau vài ngày, các sợi nấm phát triển đan chéo vào nhau thành một búi trắng như bông, có thể nhìn thấy bằng mắt thường (để cá bệnh vào vùng nước trong sẽ dễ nhìn thấy hơn). Có thể điều trị bằng một số phương pháp sau: – Tắm cá bằng nước muối 8 phút trong 30 phút, 3 giờ sau lặp lại. – Dùng thuốc tím (KMnO4) thả xuống ao với liều lượng 3 – 5 g / m3 nước
2.4 Bệnh neo
Giống cây gậy đầu có sừng cứng như mỏ neo cắm sâu vào thân, thường bám vào gốc vây ngực và vây hậu môn. – Dùng Formaline 20 – 25 ml / m3 nước tắm cho cá trong 30 phút, ngày hôm sau lặp lại và thay 70% lượng nước mới cho cá. – Dùng lá xoan, bách hợp 0,3 – 0,5kg / m3 nước, bó thành bó ngâm xuống ao.

Xem thêm:  Từ cùng nghĩa là gì

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Kỹ thuật nuôi cá Sặc Rằn❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Kỹ thuật nuôi cá Sặc Rằn” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Kỹ thuật nuôi cá Sặc Rằn [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Kỹ thuật nuôi cá Sặc Rằn” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 01:40:59. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button