Kỹ thuật nuôi cá thát lát cườm thương phẩm

Cá nục cườm sống nhiều ở các nước: Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma … Ở nước ta, cá nục cườm tập trung từ miền Trung trở vào, đây là loại cá có chất lượng thịt thơm ngon, có thể chế biến thành nhiều món ăn. các món ăn đẳng cấp. Trong tự nhiên, cá bị khai thác quá mức và có nguy cơ cạn kiệt. Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất có thể lai tạo để giúp người chăn nuôi chủ động hơn, không phải phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên.
1. Chuẩn bị ao
Ao nuôi cá Cơm có diện tích từ 200 m2 trở lên, mực nước từ 1-1,2m. Ao nuôi phải gần nguồn nước để dễ cấp thoát nước. Ao cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng như ao nuôi cá Tát Lạch.
– Tát cạn ao, nạo vét lớp bùn đáy, chỉ để lại lớp bùn dày không quá 30 cm.
– Dọn sạch cỏ bờ ao, mái ao, cây cỏ trong ao, lấp các hố, chỗ dột. Kiểm tra và sửa chữa các cống cấp thoát nước.
– Dùng dây thuốc diệt cá diệt cá tạp, cá xấu và các loài cá gây hại khác, dùng 0,5-1 kg gốc thuốc diệt cá cho 100 m3 nước.
– Rải 8 – 10 kg vôi bột / 100m2 đáy ao và trên mái để diệt các loài cá tạp còn sót lại và diệt mầm bệnh. Ở vùng nhiễm phèn, lượng vôi cao hơn khoảng 50%. Sau khi rải vôi, phải trộn đều vôi với bùn mặt ao.
– Bón phân chuồng tạo thức ăn tự nhiên ban đầu cho cá với liều lượng 10 – 20 kg cho 100 m2 ao. Hoặc bón phân vô cơ (urê 0,5 kg, lân 0,3 kg) hoặc phân hỗn hợp (NPK) 2 kg cho 100 m2 ao.
– Sau đó phơi đáy 2-3 ngày. Ao nuôi ở vùng nhiễm phèn không nên để lộ đáy.
– Lọc nước vào ao cho đến khi mực nước đạt 0,5 – 0,6 m thì tiến hành thả cá giống. Sau đó tiếp tục cho nước vào ao nuôi cho đến khi đạt mức quy định.
2. Cá giống và mật độ thả nuôi
– Chọn cá giống khỏe mạnh, bơi lội nhanh nhẹn, không xây xát. Tắm cá trong nước muối 2% 10-15 phút trước khi thả giống.
Mật độ thả: Trung bình 5 – 10 con / m2, cỡ giống 6 – 8 cm. Phải thả cá giống khi trời mát, trước khi thả cá vào ao phải ngâm túi cá giống trong nước khoảng 15-20 phút để nhiệt độ trong và ngoài túi cân bằng, sau đó mở miệng túi để thả cá.
– Thả trong ao một số loài khác như cá tráp trắng, cá trê, rô phi, sặc rằn với tỷ lệ không quá 50% tổng số cá trong ao và cũng không thả các loài cá cạnh tranh thức ăn với. các loài khác. Cá cơm như cá rô phi, cá tra.
3. Thức ăn cho cá và quản lý ao nuôi
Cá giống khi mới thả vào ao vừa sử dụng thức ăn tự nhiên trong ao vừa ăn các loại thức ăn khác do người nuôi cung cấp như thức ăn hỗn hợp đã qua chế biến và thức ăn tươi sống. Lượng thức ăn được tính như sau:
– Hai tuần đầu: 50g cám trộn với 50g bột cá nấu chín trộn đều cho 1.000 con ăn.
– Các tuần tiếp theo: 50% là thức ăn chế biến (cám + bột cá) và 50% là thức ăn tươi sống như cá tạp tươi, ốc, tép …
– Thức ăn tươi phải tươi, không ôi thiu, được cắt nhỏ và rửa sạch trước khi cho ăn. Nguyên liệu thực phẩm chế biến không được ẩm mốc, còn hạn sử dụng.
Ngoài ra, tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp cho cá vừa và nhỏ, hàm lượng đạm 25-30%, tỷ lệ thức ăn viên công nghiệp khoảng 30%. Tất cả các loại thực phẩm không được pha trộn với bất kỳ loại hóa chất, kháng sinh nào trong danh mục cấm. Khẩu phần thức ăn chế biến 5 – 7% khối lượng cá / ngày. Khẩu phần thức ăn viên công nghiệp 1,5-2% khối lượng cá / ngày. Cho cá ăn 2 – 3 lần / ngày. Kiểm tra thức ăn sau khi cá ăn để điều chỉnh kịp thời. Lưới lọc phải được làm sạch trước khi cho cá ăn. Hàng ngày chú ý kiểm tra bờ ao, cống rãnh, kịp thời phát hiện, tu bổ bờ, lưới, lấp hố, ngăn nước mưa tràn bờ. Hàng tuần thay 30-50% lượng nước trong ao. Khi nước ao quá xanh, nâu đen hoặc có mùi hôi thì phải tháo hết nước cũ và cấp nước sạch mới vào ao. Rau mùi cũng có thể gặp một số bệnh như cá nục như nhiễm trùng huyết do vi khuẩn gây bệnh Pseudomonas, Aeromonas, Edwardlsiella. Cá bị nhiễm bệnh trong trường hợp nuôi quá dày đặc, nước ao bị ô nhiễm hoặc do tác nhân cơ học và cá bị xây xát, do hàm lượng ôxy trong nước giảm xuống quá thấp nên cá dễ bị nhiễm bệnh. Dùng một số loại kháng sinh như Oxytetracycline, Kanamycin trộn vào thức ăn cho cá (50-70 mg / kg thể trọng, liên tục 7-10 ngày). Rau mùi cũng có thể bị nhiễm các loại ký sinh trùng như giun đũa (Tricho dina), giun dưa (Ichthiophthyrius), các loài giáp xác ký sinh như giun mỏ neo (Lernea), rận cá (Argulus), sán lá đơn giản. ký chủ 16 móc câu (Dactylogyrus), giun 18 móc (Gyrodactylus) hoặc nhiễm giun đũa (Philometra) Để phòng bệnh cho cá, phải cho cá ăn đủ chất, thức ăn hợp vệ sinh, môi trường nước ao nuôi phải sạch và đủ chất. ôxy. Có thể điều trị cá bị nhiễm vi khuẩn hoặc ký sinh trùng bằng một số loại thuốc dùng cho cá nục.
4. Thu hoạch
Cá có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, sau 10-12 tháng nuôi có thể đạt 700-800 g. Có thể thu hoạch đồng loạt khi giá cao hoặc tỉa bớt cá lớn, nuôi lại cá nhỏ chưa đạt kích cỡ. Theo Tep Bac

Xem thêm:  Kế hoạch giảm tải Âm nhạc lớp 2 sách Kết nối tri thức theo công văn 3969

Bài viết trên đây, Abcland.Vn đã cập nhật cho bạn thông tin về “Kỹ thuật nuôi cá thát lát cườm thương phẩm❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Kỹ thuật nuôi cá thát lát cườm thương phẩm” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Kỹ thuật nuôi cá thát lát cườm thương phẩm [ ❤️️❤️️ ]”.

Bài viết “Kỹ thuật nuôi cá thát lát cườm thương phẩm” được đăng bởi vào ngày 2022-06-04 01:19:14. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại ABC Land – Kênh thông tin BDS uy tín nhất Việt Nam

Back to top button